Vipassana, đi và tỉnh thức

vipassana-ss-meditation.jpeg

Tôi rời Dhamma Shringa trong một sáng mưa lạnh, ngồi co trong chiếc xe trung chuyển giữa chừng hai mươi người đàn ông Nepal trở về trung tâm thành phố. Cảm xúc từ giờ phút dỡ bỏ Noble Silence (Sự im lặng thánh thiện) trong Metta Day một ngày trước đó vẫn nguyên vẹn, mọi người trò chuyện tưng bừng, vỗ vai hay ôm tạm biệt khi chia tay nhau lần lượt trên đường. Tôi chọn thu mình tiếp tục im lặng, tôi thích nhìn ngắm và ngẫm nghĩ hơn là mở miệng lúc này.

Những ngày qua tôi sống và học tại trung tâm Vipassana Nepal, thiền viện nhỏ nằm dưới chân một ngọn núi thuộc dãy Himalaya. Giữa những loại hình thiền có thể phù hợp với bản thân như Zen, Chakra, Vipassana hay Mantra… tôi chọn Vipassana, một trong những phương pháp thiền cổ xưa nhất được đức Phật Gotama Buddha truyền dạy hơn 2500 năm trước. Dù bị thất truyền hàng ngàn năm tại chính nơi sinh ra là Ấn Độ, may mắn thay Vipassana vẫn được lưu giữ vẹn nguyên trong một cộng đồng Phật giáo nhỏ bí mật tại Myanmar, sau này được trở về và giảng dạy tại quê nhà bởi thiền sư S.N.Goenka, từ đó lan tỏa sang nước láng giềng Nepal và mở rộng trên quy mô toàn cầu. Một cách vắn tắt, Vipassana trong ngôn ngữ cổ Pāli (Nam Phạn) nghĩa là ‘insight” (Nhìn thấu được bên trong sự vật), là “see things as they really are” (Nhìn sự vật như nó vốn có) nhằm tự chuyển hóa và thanh lọc thân tâm bằng cách quan sát hơn thở và từng cảm giác trên cơ thể và chữa trị những khổ đau, mang lại thân tâm quân bình tràn đầy tình thương và lòng từ bi, đem đến sự hài hòa cân bằng trong đời sống hàng ngày cho chính bản thân người tập luyện và đóng góp nhiều điều tích cực cho cộng đồng. Phương pháp thậm chí còn được giảng dạy cho hàng ngàn tù nhân tại Ấn Độ, Đài Loan và Hoa Kỳ (tham khảo phim tài liệu ‘Doing time, doing Vipassana’). Để giữ gìn sự trong sáng nguyên thủy nhất, tất cả các khóa học đều hoàn toàn miễn phí, đồ ăn và chỗ ở của thiền sinh có được nhờ nguồn ủng hộ từ lớp người đi trước, những người cảm thấy thực sự được hưởng lợi lạc mà phương pháp mang lại. Tôi không muốn giới thiệu nhiều vì không khó để tìm kiếm thông tin về Vipassana trên mạng (bản tiếng Anhtiếng Việt). Tôi chỉ đơn thuần kể lại những trải nghiệm cá nhân và không có khả năng dạy lại, bởi không ai khác ngoài ta tự cảm thấy niềm thôi thúc khi tìm đến thiền định, và cũng chỉ bản thân ta có thể quan sát và lắng nghe từ sâu thẳm con người mình, không một ai có thể can thiệp. Thiền tập không phải là một loại hình thương mại, không phải một việc có thể thúc ép và cũng không phải một thú tiêu khiển mang tính triết lý trí tuệ.

Khác với tưởng tượng của tôi về việc nhiều du khách phương Tây tìm đến Nepal hay Ấn Độ để học thiền, cả khóa lần này chỉ có tôi và bốn cô bạn châu Âu được xếp ở chung một phòng, còn lại đa phần là người bản địa. Phía nam sinh cũng chỉ lác đác vài người ngoại quốc. Thú thực, tôi không muốn bị bó mình trong môi trường học bao quanh bởi một tôn giáo nhất định. Tại Việt Nam, phương pháp Vipassana đã được giảng dạy ở cả hai miền bắc nam nhưng tôi chọn tới Nepal để học bằng ngôn ngữ gốc từ thầy Goenka (tiếng Hindi và tiếng Anh), để chứng nghiệm tính không phân biệt tôn giáo của phương pháp và ngắm nghía được một thế giới thu nhỏ nơi thiền tự. Tôi đã thấy những chàng trai cô gái Hindu trẻ tuổi ăn vận đa phong cách, vài anh chàng phương Tây mang nét Hippie hoang dại phóng khoáng, những người Nepal cao tuổi đầy khả kính, vị đạo sĩ Yogi bí ẩn, hai nhà sư Tây Tạng trầm mặc… Tôi tự hỏi nhiều người trong số họ tham dự khóa học với mục đích gì, những người tưởng như đã đi gần hết cả cuộc đời, người mà trong mắt tôi như tượng đài của thiền tập? Đôi lúc, tôi thấy mình bơ vơ và lạc lõng giữa những niềm tin tôn giáo. Kẻ rong chơi ngoại đạo tôi ở quê nhà thường chỉ đi đình chùa để nghiên cứu và chưa từng có hứng thú tìm hiểu hay tham dự bất kì khóa thiền, khóa tu nào. Trước chuyến đi, tôi đã bán và cho bớt nhiều đồ đạc, sách truyện, áo quần, chỉ giữ lại những món đồ lưu niệm được tặng. Sửa soạn lòng mình, sống đơn giản gọn nhẹ, buông bỏ những nguồn vui thô tháo để tìm về những niềm vi tế, tôi lên đường như một tờ giấy trắng trơn, vô ưu và non nớt, không hiểu biết, không kinh nghiệm, không áp lực, không kì vọng, để rồi tự do viết thêm cho mình những nét chữ kỉ niệm trên trang cuộc đời dài rộng.

Hơn ba tháng trước, dành nửa buổi hoàn thành đơn xin học xong cũng là lúc tôi cạn sức vì phải trả lời thành thực các câu hỏi về tình trạng tâm lý của mình trong hiện tại và quá khứ kèm mốc thời gian chi tiết: những vấn đề từng gặp phải, các phương pháp thiền định hay bất kì biện pháp nào khác từng áp dụng khi đối mặt với sự bất tịnh về tinh thần. Những kỉ niệm không vui từng lẽo đẽo theo tôi nhiều năm tháng ùa về, quãng thời gian tự cứu mình khỏi chứng trầm cảm ùa về. Rồi khi bình tâm, tôi bỗng hân hoan đến lạ khi nhìn lại những nỗ lực và sự an lạc một cách tự nhiên tìm đến với mình sau tất cả. Tưởng như chẳng còn gì có thể khiến tôi quá đỗi bất ngờ, đau khổ, cáu giận, ghét bỏ, bất bình, phán xét… tôi cứ để lòng mình như con thuyền nhỏ trôi trên dòng sông phẳng lặng. Hai tháng sau, tôi nhận được thư chấp nhận từ Nepal kèm câu hỏi “Như bạn đã biết, đây thực sự là một chương trình học ‘serious’, hãy xác nhận lần cuối nếu bạn chắc chắn muốn tham gia”. Tôi băn khoăn liệu từ ‘serious’ ở đây mang nghĩa ‘nghiêm túc’ hay ‘khắc nghiệt’ và ra đi với niềm tin thơ ngây của người đã-đọc-kĩ-nội-quy: “Thức dậy từ bốn giờ sáng và lên giường muộn nhất lúc chín rưỡi tối? Ngồi thiền mười mấy tiếng mỗi ngày? Cách ly với thế giới bên ngoài, không có trong tay bất kì thiết bị liên lạc hay phương tiện giải trí nào dù là một tờ giấy hay cây bút? Giữ im lặng tuyệt đối với các thiền sinh khác kể cả giao tiếp bằng ánh mắt? Bữa ăn cuối kết thúc lúc mười một giờ trưa kèm một bữa trà nhẹ lúc 5 giờ chiều?…”. Tôi làm được! Gì chứ giữ im lặng, người sống một mình lâu năm là tôi đây có thể không nói một câu trong cả tháng! Tôi đã lầm. Ngồi thiền mười phút và ít nhất mười tiếng mỗi ngày là hai việc hoàn toàn khác nhau.

Buổi sáng ngày nhập học, tôi lên cơn sốt nhẹ, đến văn phòng làm thủ tục, tự tin điền lại mẫu đăng ký lần cuối, quả quyết “Hiện tại tôi chẳng có vấn đề gì về tâm lý hết. Tôi chỉ đơn thuần muốn có được thêm sự thăng bằng trong cuộc sống”. Tôi đã không ngờ được những gì chờ mình phía trước. Vì lượng thiểu số người nước ngoài tham dự nên tiếng Anh được nói cuối cùng sau tiếng Hindi và Nepali, tôi ngủ gật ngay từ ‘vòng’ phổ biến sơ lược nội quy vì thứ tiếng Anh-Ấn thách thức người nghe của thầy giáo. Đường lên thiền viện cách xa trung tâm thủ đô, gã trai Nepal ngồi cạnh cố làm trò gây ấn tượng và lân la bắt chuyện khiến tôi vô cùng khó chịu. Tối đến, cơn sốt trở nên trầm trọng và những ngày sau đó tiếp tục quay trở lại, tôi từ chối ăn thêm món cháo ngọt vì vốn coi đường như kẻ thù của vòng eo. Tôi đã trả giá cho sự khảnh ăn đó ngay sớm hôm sau. Cơn sốt, cơn đói, cơn đau, cơn buồn ngủ ập đến khiến tôi chỉ thở và nghĩ thôi cũng muốn ngất xỉu. Những hình ảnh đáng sợ và ám ảnh nhất từ tấm bé cùng lúc rủ nhau quay trở lại quần thảo trong tâm trí. Ở quê nhà, tôi được coi là người ăn chay trường vậy mà giờ đây, tôi bỗng thèm thịt đến cồn cào ruột gan. Nước mắt trào ra, tôi biết tất cả những ‘sửa soạn’, ‘sẵn sàng’ hay ‘an lạc’ của mình trước đây đều là ngộ nhận và giả tạm. Tôi trở lại là tôi với những gì tầm thường, bản năng nhất. Như con thú nhỏ bị thương trong cơn bão, tôi cố gắng không suy nghĩ thêm, lưu lại chút năng lượng cuối cùng, lặng lẽ thu mình chờ trời sáng.

Ba ngày đầu tiên, mỗi ngày trung bình 10-11 giờ ngồi trong thiền phòng tối, mắt nhắm và giữ im lặng tuyệt đối, người mỏi tê liệt, mặt mày xây xẩm, từng giờ dài lê thê trôi qua, công việc duy nhất của chúng tôi là thực hành Anapana – quan sát hơi thở, một việc tưởng như dễ như chính việc hít vào thở ra ngày nào ta còn tồn tại trên mặt đất này. Nhưng không, trong mọi hoàn cảnh phiền toái giữa đời thường, nắm được hơi thở, duy trì chánh niệm trong từng giây phút không phải là một việc đơn giản. Hơi thở là nhịp cầu nối liền thân và tâm. Chỉ khi thu lấy sự cô độc về thể lý, quan sát hơi thở, ta mới có thể lắng nghe được tiếng nói sâu thẳm từ trong con tim mình. Mind-wandering (Loạn tưởng – suy nghĩ mông lung và bỏ quên hơi thở) ghé thăm tôi liên tục. Tôi đã lầm khi áp dụng những bài kệ tôi đọc được từ thầy Thích Nhất Hạnh “Thở vào, tâm tĩnh lặng. Thở ra, miệng mỉm cười. An trú trong hiện tại. Giờ phút đẹp tuyệt vời”. Pha trộn và áp dụng các phương pháp thiền định khác nhau cùng lúc là một việc nguy hiểm. Tôi duy trì tự nhẩm thở vào-tâm tĩnh lặng – thở ra-miệng mỉm cười như một cái máy và nhận ra ngay lập tức nụ cười méo mó khốn khổ của mình, cười khi tâm vẫn đầy bất an vọng động. Khác với vẻ thản nhiên bình lặng thường ngày, tôi trở nên yếu đuối và thính nhạy hơn bao giờ hết. Những cơn loạn tưởng ập đến như những thước phim ngắn về cuộc đời mà ở đó, tôi đã khóc đã cười, đã tưởng như mình đồng bệnh với Betty Blue, cô gái trong bộ phim Pháp ‘37°2 le matin’ mắc Borderline Personality Disorder (Hội chứng tâm lý không ổn định, khi vui thì vui cực điểm, khi buồn thì tâm trạng xuống dốc không phanh, có thể làm những việc bất thường và điên rồ đầy bản năng). Ý nghĩ bỏ chạy liên tục tìm đến, tôi tự dằn vặt cật vấn bởi những dòng ý thức tiêu cực không ngừng nghỉ “Mình đang làm cái quái gì ở đây”. Những ngày đầu trôi qua với đầy những hạnh phúc, hân hoan, khổ đau, nuối tiếc, hoang mang và tự vấn… Tôi biết mình đang đi rất chậm dù có thể định hình được khi nào đang nắm bắt được hơi thở, khi nào đang để tâm trí đi rong. Rốt cuộc, chỉ có hai loại loạn tưởng: vọng tưởng về quá khứ – hoang tưởng về tương lai và hai loại cảm xúc: present (hiện tại) – unpresent (phi hiện tại). Chỉ đến tối ngày thứ ba khi được gặp lại thầy Goenka với những bài giảng hài hước và thâm thúy giúp tôi xốc lại tinh thần mỗi ngày, tôi mới choàng tỉnh nhận ra mình đã quá nghiêm trọng hóa và đổ lỗi cho bản thân về việc không kiểm soát được tâm trí. Loạn tưởng đến và tôi luôn gồng mình lên để chống lại, xua đuổi chúng, điều càng khiến tôi trở nên lung lay chới với. Rồi câu nói của Thầy đến với tôi như cơn mưa mát lành giữa mùa hạ “When you practice meditation, don’t make any effort. Allow yourself to be like a pebble at rest. The pebble is resting at the bottom of the river, and the pebble does not have to do anything”. (Khi luyện tập thiền định, đừng cố gắng sức, đừng cố ép buộc. Hãy để tâm trí ta chỉ như một hòn sỏi đang nằm yên dưới đáy sông, và hòn sỏi không cần phải làm gì cả). Trở về thiền phòng với niềm hân hoan và sự thanh thản, tôi hít thở như chưa bao giờ được thở, nước mắt giàn giụa, hạnh phúc như đứa bé con bị nhốt lâu năm trong phòng tối lần đầu được thấy ánh mặt trời. Thân tâm trở lại thư thái an nhàn, không còn chạy rong ruổi mãi theo quá khứ hay vị lai, tôi biết mình biết chấp nhận và tha thứ, chấp nhận mọi thực tại mầu nhiệm xung quanh và tha thứ cho mình, cho người.

Những ngày sau đó, khi đã quen dần với việc dõi theo hơi thở, chúng tôi thực sự được đến với thế giới của Vipassana – duy trì thở và dùng tâm lực quét dọc cơ thể mọi cảm giác một cách khách quan và không phán xét, không phản ứng lại chúng. Loạn tưởng đem lại các cảm xúc, và dù ở cung bậc nào, chúng đến rồi sẽ đi, không gì là vĩnh cửu. Việc duy nhất ta có thể làm là quan sát và để mọi chuyện cho Dhamma (quy luật muôn đời của tự nhiên), là sống cho từng giây phút hiện tại, không để tương lai hay quá khứ lôi cuốn đi, từ đó gìn giữ equanimity (trạng thái quân bình, sự thăng bằng cho thân tâm). Những yếu tố đem đến an lạc và hạnh phúc luôn có sẵn trong ta, cả những hạt giống khổ đau cũng do chính ta tự gieo mầm. Tôi không thể thay đổi thực tại xung quanh, không thể lường trước được những gì sẽ đến với mình, tôi chỉ có thể dùng những yếu tố tươi mát an tĩnh để chữa trị và thay đổi bản thân. Cuộc sống bộn bề và ta thường có xu hướng tìm đến những thứ ‘bên ngoài’ để cứu vớt và lấp đầy khoảng trống ‘bên trong’: bật ti vi, nghe nhạc, vơ lấy sách đọc, tìm người nói chuyện, ăn uống, mua sắm, tụ tập bạn bè, đi du lịch để rồi khi còn lại một mình, những vấn đề xưa cũ chưa được giải quyết được tận gốc rễ lại quay trở về. Đã bao lần tôi nghe nhạc mà không thực sự nghe, làm mà không thực sự làm khi đầu bận nhẩm tính các kế hoạch sau đó, nói chuyện bằng mắt và tai mà không bằng tim, lang thang tới một ngôi đình chùa nơi ngoại ô lấy cớ chụp ảnh nghiên cứu nhưng thực chất là trốn chạy thực tại xô bồ nơi phố thị, đi mà để lại những dấu chân tất tả muộn phiền lên mặt đất. Tôi cứ sống như một mũi tên lao về phía trước.

Thời gian trôi qua chóng quá, Metta Day – ngày phá bỏ sự im lặng thánh thiện đã đến. Sau Anapana và Vipassana, chúng tôi đến với phương pháp cuối cùng: Metta – làm tràn đầy thân tâm bằng những ý nghĩ hạnh phúc và hi vọng chia sẻ sự cân bằng và niềm vui ta có được sau giờ thiền tập. Chỉ bằng cách tự giải phóng và chuyển hóa bản thân, đem lại năng lượng tích cực cho chính mình, ta mới có thể đem đến những điều tốt đẹp cho thế giới xung quanh. Khi mắc kẹt trong những việc không suôn sẻ, ta thường có xu hướng đổ lỗi cho các yếu tố khách quan, quan trọng hóa vấn đề của bản thân (self-centeredness) mà quên đi sự tồn tại của hàng tỉ sinh linh khác cùng tồn tại trên mặt đất này. Một trăm người chúng tôi đến đây với những hoàn cảnh sống khác nhau, cùng tìm về nơi thiền phòng, cùng hít thở hay trải nghiệm loạn tưởng, cùng ngồi nghe đất trời trở mình đón bình minh hay chìm dần vào ánh hoàng hôn mỗi ngày. Tôi thấy mình bé nhỏ quá, những cơn bão lòng do tôi tự ham thích gây ra chỉ như hạt bụi giữa vũ trụ mênh mông. Quán chiếu bản thân và sống nhiều hơn cho người khác, tôi còn quá nhiều nơi để đi, nhiều việc để làm, nhiều người để gặp.

Giờ đây tôi là ‘cựu học sinh’, cánh cổng đón tôi trở lại để tiếp tục học hoặc làm tình nguyện luôn rộng mở. Tôi rời đi và chỉ chụp duy nhất một bức ảnh Dhamma Shringa, những gì cần nhớ, tôi đã lưu giữ cẩn thận. Chẳng phải đôi mắt là chiếc máy ảnh tốt nhất và quả tim là chiếc thẻ nhớ tốt nhất? Cảnh vật nơi đây cứ xinh đẹp một cách tự nhiên như nó vốn thế, tôi đã đi giữa bao loài cây cỏ mọc tự do bên những hàng gạch đổ vỡ, đứng ngắm mây vắt qua núi mỗi chiều hay trải qua những giờ ăn có cả khỉ xà vào phòng. Chương trình học có thể gọi là ‘khắc nghiệt’ với những ai cho nó là khắc nghiệt nhưng trung tâm luôn cố gắng mang lại những tiện nghi cơ bản, giản dị và thoải mái nhất cho chúng tôi. Tôi yêu cái màu chàm của tấm ga trải giường và chiếc rèm khâu tạm bợ ngăn giữa các phòng quá đi thôi! Có hàng tỉ thứ bé nhỏ để tận hưởng mỗi ngày. Tôi phát hiện ra vết khắc trên đầu giường mình từ một cựu thiền sinh đếm lùi chờ ‘ngày ra tù’. Hội phụ nữ luôn có những cách để phá luật Noble Silence bằng việc ra dấu bằng tay hay giao tiếp bằng mắt; từ ngày thứ năm trở đi, chuông báo là chuyện của chuông báo, chị em luôn ung dung đủng đỉnh trở lại thiền phòng. Tôi thường nấn ná từng phút để được hóng thêm chút nắng gió bên ngoài. Chiều ngày thứ bảy, một nam sinh lỡ ‘thả bom’ quá đà khiến cô bé trẻ tuổi bật cười, kéo theo cả hội trường lần lượt vỡ òa sau một tuần câm nín. Nhiều người không chịu nổi phải bỏ ra ngoài cười rũ rượi. Tôi đã phải chờ đến ngày cuối cùng mới được chắp tay nói lời cảm ơn chị tình nguyện viên đã cứu sống mình bằng mấy thứ thảo dược tí hon tôi không biết tên và luôn gọi tôi là ‘sister’ (em ơi) thay vì ‘miss’ (cách gọi lịch sự phổ biến). Ngày cuối trước lên xe, tôi vẫy chào anh chàng trẻ tuổi ngồi cạnh bữa nọ, không còn khó chịu, không còn ghét bỏ, lòng nhẹ như gió thoảng mây trôi.

Tôi biết không ít người cho rằng thiền tập là thứ gì đó phi thực tế, thậm chí hoang đường và khổ hạnh. Cần nhớ rằng chấp nhận không có nghĩa là dễ dãi, quân bình không có nghĩa là thờ ơ vô cảm. Tôi không thể chỉ nói suông và khuyên bảo hay ép uổng ai đó đi cùng một con đường. Với tôi, tập thiền mang lại thảnh thơi, đều đặn và tinh tấn bất cứ đâu, bất cứ khi nào, với bất cứ tôn giáo hay địa vị nào. Quá trình học của tôi không không thực sự tốt vì thiếu sót yếu tố ‘sức khỏe’, tôi đã ốm yếu quá. Một tinh thần khỏe mạnh chỉ có được ở một cơ thể mạnh khỏe. Giờ đây trong gương, tôi thấy một người gầy đi nhiều vì sụt kí. Trong tâm, tôi thấy một người trầm tĩnh và bình thản. Tôi đã thực sự thấm thía câu nói của chàng Siddhartha trong cuốn sách cùng tên của Hermann Hesse “I can think, I can wait, I can fast” (Tôi biết suy tư, tôi biết chờ đợi, tôi biết nhịn đói). Suy tư để nhìn thấu mọi gốc rễ của khổ đau, chờ đợi để học kiên nhẫn và bao dung và nhịn đói để biết trân trọng từng bữa ăn mà thiên nhiên ban tặng. Mười hai ngày quá ngắn ngủi, không ảo tưởng về kết quả, tôi phải tiếp tục trở về cuộc sống thường ngày, còn cả con đường dài phía trước cùng hít vào thở ra với những điều đẹp xinh và cả những nhăng nhố ở đời. Tôi vẫn chỉ là cô gái trẻ ham vui với những cái hẹn về Thamel ăn chơi. Dù có chuyện gì đến, ngắm lại hình xăm nhỏ đã ngụ trên cổ tay mấy năm, hít một hơi sâu và tự nhủ “whatever”, “take it easy” and “let it be” (sao cũng được, nghĩ đơn giản đi và để mọi chuyện thuận theo tự nhiên).

Nếu phải dùng một từ để miêu tả về mình quãng thời gian trước tuổi 24, tôi chọn ‘bất an’. Và giờ đây là ‘bình an’. Tôi không biết dòng đời sẽ đưa mình đến những miền nào, nhưng có một điều tôi biết chắc rằng: dù ở đâu, trong tâm tôi vẫn luôn là một người Việt Nam, sống tùy duyên nhưng không bao giờ tùy tiện.

Advertisements

About thaohiennguyen

Seulement une petite fille dans son petit monde
This entry was posted in Đi. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s